Điều kiện tự nhiên của huyện Thới Bình là thế mạnh cho phát triển nông nghiệp

Trong những năm qua, Huyện ủy Thới Bình đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Qua đó, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển biến tích cực về năng suất, chất lượng, hiệu quả và luôn giữ vai trò là ngành sản xuất trọng điểm trong nền kinh tế của huyện, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Qua từng giai đoạn, giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng nâng cao: giai đoạn 2006-2010 đạt 879 tỷ đồng, giai đoạn 2011-2015 đạt 8.328 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 đạt 25.510 tỷ đồng. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được bố trí theo hình thức luân canh, chuyên canh hoặc kết hợp một số loài có đặc điểm sinh trưởng tương đồng trên cùng một diện tích tùy theo đặc điểm sinh thái của từng địa bàn, nhưng tập trung chủ yếu là trồng lúa gạo và nuôi tôm. Lúa gạo và tôm được xác định là hai ngành hàng chủ lực của huyện; bên cạnh đó, trong những năm gần đây người dân phát triển mạnh nuôi tôm càng xanh, cua thương phẩm. Trong giai đoạn 2015-2020, bình quân hàng năm thu hoạch được trên 15.300 tấn tôm và trên 73.100 tấn lúa. Tổ chức sản xuất nông nghiệp bước đầu có sự chuyển đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, hình thức tổ chức sản xuất có sự chuyển dần từ nhỏ lẻ, tự phát sang hợp tác, liên kết gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; các giống loài mới có năng suất, chất lượng cao và thích ứng với biển đổi khí hậu dần thay thế các giống loài truyền thống có năng suất, chất lượng thấp; khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thân thiện với môi trường ngày càng được ứng dụng rộng rãi; sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ bước đầu được người dân đầu tư thực hiện đem lại hiệu quả cao,... Mối liên kết trong sản xuất đã dần hình thành khi có nhiều công ty, doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nhất là đối với hai ngành chủ lực tôm và lúa gạo. Hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu nông sản chủ lực của huyện được quan tâm, chú trọng. Huyện đã xây dựng và phát triển Nhãn hiệu chứng nhận “Lúa sạch Thới Bình”; bên cạnh đó, các sản phẩm lúa hữu cơ (lúa gạo ST24, ST25) được các tổ chức quốc tế chứng nhận là các loại gạo ngon nhất thế giới hiện đang được nhân dân trong huyện đưa vào gieo trồng ngày càng phổ biến,...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thới Bình còn một số hạn chế như: hình thức tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, tự phát còn phổ biến; sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm; sản phẩm bị phân tán, hàm lượng khoa học - công nghệ và sức cạnh tranh của hàng hóa chưa cao; một số hàng hóa nông sản thiếu đầu ra ổn định, tình trạng được mùa mất giá, bị tư thương ép giá còn xảy ra; đầu tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chưa nhiều; công tác quản lý nguồn gốc, chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp và chất lượng nông sản từng lúc thực hiện chưa tốt,... dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp.

Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan là do tình hình thời tiết, khí hậu, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường. Nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, đó là: khai thác chưa tốt các tiềm năng, lợi thế của huyện để phát triển sản xuất nông nghiệp; tư duy và nhận thức của một số cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhạy bén trong việc thay đổi hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với tình hình mới, một bộ phận nông dân còn mang nặng tư tưởng sản xuất theo phương pháp truyền thống, chưa mạnh dạn thay đổi phương pháp sản xuất mới; nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; mối liên kết, hợp tác trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và hộ nông dân chưa nhiều; quản lý nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp từng lúc, từng nơi chưa chặt chẽ, hiệu quả,...

Để tạo bước đột phá mạnh mẽ trong phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, ngày 21 tháng 4 năm 2020, Huyện ủy Thới Bình đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/HU về phát triển sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng gắn với chuỗi liên kết chặt chẽ bền vững trên địa bàn huyện Thới Bình  giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu chung là: Tập trung khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của huyện và của từng xã, thị trấn để phát triển sản xuất nông nghiệp từng bước theo hướng hiện đại, bền vững dựa trên nền tảng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung có quy mô lớn; phát triển các nông sản có năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Chú trọng phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng có tiềm năng, thế mạnh của huyện. Đổi mới hình thức tổ chức sản xuất trên cơ sở phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, các trang trại có sự hợp tác, liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị. Nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, bảo đảm an ninh nông thôn, giảm nghèo bền vững, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng huyện Thới Bình đạt chuẩn nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Bên cạnh mục tiêu chung, Nghị quyết 12 đã đề ra chỉ tiêu cụ thể trong giai đoạn 2020-2025 là hàng năm phải đảm bảo 100% diện tích lúa một vụ trên đất nuôi tôm sử dụng giống lúa chất lượng cao và được sản xuất theo quy trình lúa sạch, trong đó có 5.000ha sản xuất theo quy trình lúa hữu cơ. Đến năm 2025, giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện phải đạt 8.043 tỷ đồng trở lên; có trên 95% diện tích nuôi tôm quảng canh trên địa bàn huyện được sản xuất theo quy trình nuôi tôm sinh thái, trong đó có 5.000ha nuôi  theo quy trình tôm hữu cơ; có 80% sản lượng sản phẩm chăn nuôi được sản xuất theo quy trình an toàn sinh học; có từ 90 đến 95% diện tích rau trên địa bàn huyện sản xuất theo quy trình rau an toàn; xây dựng hoàn thiện từ 1 đến 2 chuỗi giá trị sản xuất gắn với sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện và có ít nhất từ 3 đến 4 sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của huyện (lúa, gạo đặc sản, tôm càng xanh, mắm lóc,…) trở thành sản phẩm OCOP tham gia liên kết sản xuất với công ty, doanh nghiệp.

Đến năm 2025, huyện Thới Bình có trên 95% diện tích nuôi tôm quảng canh được sản xuất theo quy trình nuôi tôm sinh thái.

Mục tiêu phát triển nông nghiệp huyện Thới Bình giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo đề ra trong Nghị quyết 12 là hoàn toàn khả thi bởi nó tương xứng với những tiềm năng, lợi thế sẵn có của huyện và phù hợp với xu hướng phát triển chung của ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau trong thời gian tới. Để thực hiện đạt mục tiêu này, điều quan trọng là phải có những giải pháp phù hợp, thiết thực, trong đó phải có những giải pháp mang tính đột phá.

Nghị quyết 12 đã đề ra 06 nhóm giải pháp trọng tâm như sau: (1) Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận cao trong tổ chức thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. (2) Rà soát, định hướng các vùng sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực của huyện. (3) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp; xây dựng, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. (4) Củng cố, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức, liên kết, quản lý trong sản xuất nông nghiệp và thu hút các doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất. (5) Hỗ trợ phát triển thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh quảng bá, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, bao bì, nhãn mác và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. (6) Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, công tác quản lý của chính quyền và huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong phát triển nông nghiệp.

Trong 06 nhóm giải pháp trọng tâm nêu trên thì các nhóm giải pháp số 2, số 3, số 4 là những nhóm giải pháp mang tính đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện. Cụ thể, đối với giải pháp số 2, Nghị quyết 12 nêu rõ từng xã, thị trấn phải căn cứ định hướng quy hoạch chung của huyện và Bản đồ phân vùng sản xuất cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyện tiến hành bố trí lại sản xuất nông nghiệp một cách cụ thể, phù hợp, xác định cơ cấu diện tích sản xuất các cây trồng, vật nuôi chủ yếu gắn với định hướng đầu ra cho sản phẩm. Trong đó, đối với các vùng ngọt, tập trung phát triển sản xuất luân canh lúa và màu, chuyên sản xuất rau, màu nhằm tạo ra sản phẩm rau, màu an toàn, sạch kết hợp nuôi cá, tôm càng xanh, trồng cây ăn quả; phát triên chăn nuôi theo qui trình an toàn sinh học các đối tượng như: gà, vịt, bò, dê, lợn (heo),… Đối với các vùng lợ, mặn, chú trọng nuôi, trồng đa dạng đối tượng (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cua biển, lúa,..). Tập trung đầu tư nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm quảng canh cải tiến 2 giai đoạn tiến tới nuôi bán thâm canh, thâm canh công nghệ cao; thực hiện xen canh trồng lúa trong mùa mưa và nuôi cua biển kết hợp,… Chủ động chuyển đổi giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với môi trường lợ, mặn.

Về giải pháp số 3, các cấp, các ngành phải xác định ứng dụng khoa học - kỹ thuật là yếu tố then chốt, động lực chính cho tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo ra nông sản chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Tập trung ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi có ưu thế vượt trội, phù hợp với đặc điểm sinh thái của huyện và thích ứng với biến đổi khí hậu. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ sản xuất, các doanh nghiệp đầu tư ứng dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ trên diện rộng để phát triển các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của huyện. Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn và có chính sách khuyến khích các hộ nông dân hợp tác, liên kết về tư liệu sản xuất (chủ yếu là về ruộng đất, ao đầm) để tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện hình thành, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn.

Đối với giải pháp số 4, Nghị quyết 12 nhấn mạnh cần phải đổi mới hình thức tổ chức sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ giữa nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác các với doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt, nhất là tại các vùng sản xuất tập trung các sản phẩm chủ lực, nhằm tạo ra sản phẩm đồng nhất về chất lượng trên cơ sở đồng nhất về giống và công nghệ sản xuất. Chỉ đạo phát triển kinh tế nông hộ theo hướng tăng cường liên kết giữa các hộ nông dân để tập trung ruộng đất, tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến, đồng bộ, cơ giới hóa sản xuất và có sự hợp tác với doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác từ sản xuất, bảo quản, chế biến, thu mua đến tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, nhằm đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế hộ trong ngành nông nghiệp của huyện. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi mời gọi, thu hút doanh nghiệp, các nhà đầu tư có tiềm lực tham gia vào đầu tư, xây dựng vùng chuyên canh, thâm canh các nhóm ngành hàng nông sản chủ lực của huyện, nhằm tạo lợi thế canh tranh về giá thành, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và tạo tiền đề làm hạt nhân xây dựng, nhân rộng các chuỗi liên kết sản xuất hiệu quả.

Với mục tiêu phù hợp với tình hình mới và những giải pháp vừa mang tính căn cơ vừa mang tính đột phá, Nghị quyết 12 nhất định sẽ thổi một  luồng gió mới mát lành trên đồng ruộng và từng bước nâng tầm cao cho nông sản Thới Bình trong thời gian tới.

                                                                                                                                                               ĐTK